VỀ TRƯỜNG CŨ, NHỚ THỜI ĐI HỌC…


  Pm NguyễnThịĐức        



Một điều ngẫu nhiên và thật hạnh phúc, đầu tháng 4/2009, KS và tôi cùng coi thi học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh tại trường THCS Nguyễn Du (xưa là trường trung học Pleiku – ngôi trường chúng tôi đã học năm lớp 12). Về trường cũ, lòng bỗng dưng xôn xao nhớ lại chuyện 36 năm về trước.

Ngày đó, sau khi kết thúc lớp 11 ở trường trung học Pleime, trừ Viết Mỹ mất trong một tai nạn thảm khốc, 16 đứa chúng tôi đứng trước ngã rẽ: lên trung học Pleiku học tiếp 12B hay ở lại chuyển sang 12A? Chẳng biết các bạn khác thế nào, còn tôi thấy bạn bè rủ rê, bèn tạm chia xa mái trường Pleime với bao kỷ niệm, tiếp tục theo ban B. Vậy là 16 đứa 11B nay lại chia đôi, một nửa lên trung học Pleiku, một nửa ở lại Pleime. Nhóm lên Pleiku gồm có Thu Đào, Phùng Hoa, Thúy Nga, Ái Loan, Thái Thanh, Ngọc Ái, KS và tôi – 8 “con vịt trời” theo cách gọi của BHS. Mỗi đứa một tính cách: Thu Đào xinh đẹp, nhí nhảnh, tự tin; Hoa yêu kiều, Thúy Nga kiêu sa, đài các; Loan + Ái dịu dàng, thùy mị; Thái Thanh bé bỏng, nũng nịu; KS và tôi thô tháp, vụng về. Lớp chúng tôi học cố định ở phòng cuối cùng dãy trệt, tay phải, nhìn từ cổng vào. Cũng có giờ phải đổi phòng nhưng học ở đây là chính. Vào lớp, chúng tôi khép nép chọn bàn nhất và bàn nhì phía bàn giáo viên. Còn lại là “ vương quốc ” của đám con trai. Ngoài Đào, Hoa và Thanh, năm đứa chúng tôi chẳng khi nào dám bước ra khỏi “đại bản doanh” của mình, trừ khi bị dò bài hay lên bảng sửa bài. Bao nhiêu năm đã trôi qua nhưng những kỷ niệm ấy vẫn in sâu trong tâm khảm tôi về một năm học cứ lặng lẽ trôi qua, không nghịch phá tưng bừng như thời học Pleime.

Vâng, quả thật là buồn. Các bạn thử tưởng tượng ở một ngôi trường dành cho học sinh nam, lọt thỏm vào đó 8 tà áo dài và một vài bộ trang phục truyền thống của các bạn gái dân tộc Jarai. Còn đâu những ngày xưa vô tư, quậy phá tưng bừng dưới mái trường Pleime yêu dấu… Còn đâu cơ hội cho KS bày trò...

Thế nhưng dù có bị môi trường học tập mới hạn chế, chúng tôi vẫn tìm cách thể hiện mình, vẫn bùng cháy trong những trò nghịch phá. Có một kỷ niệm mà KS kể, kỷ niệm đó xảy ra đúng ngày đầu tiên chúng tôi bước vào trường Pleiku. Hồi đó, KS và Ái sinh hoạt Hồng Thập Tự. Trong đội, có một bạn nam học ở Pleiku. Hai đứa nó “giả chết” và “ông anh” nhiệt tình hướng dẫn cái này, cái nọ. Trời xui đất khiến đến ngày hai đứa lên Pleiku học 12 thì là ngày “ông anh” từ lớp 9 phải thi lên lớp 10. Hỏi đi đâu, KS bảo đi chơi. “Ông anh” vẫn tin, không một chút nghi ngờ. Ngày khai giảng, thấy hai cô em xuất hiện trong nhóm 8 “ con vịt ” của lớp 12 B, “ông anh” đóng mặt giận, từ đó vĩnh viễn không bao giờ hỏi han, đá động đến hai cô em. Cục tự ái của các bạn nam quả là cao như núi. Thật đáng đời cho KS, chỉ tội cho Ngọc Ái.

Cũng theo trí nhớ của KS thì ngày khai giảng năm lớp 12 B, trường Pleiku có một bài hợp ca. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, KS và tôi có mặt trong đội văn nghệ của trường. KS còn kể có lần chúng tôi đang rảo bước đến trường. Mấy cậu học sinh lớp dưới chăm chú quan sát, ngắm nghía. Phát hiện ra Ái Loan có một vết móp ở trán. Một mẩu chuyện đã lọt vào tai chúng tôi.        - Mấy chị học 12 B đó.
       - Trời ơi, học dữ quá! Học đến nỗi móp trán luôn.
Cả lũ chỉ dám cười thầm và tiếp tục làm mặt nghiêm, gõ guốc đến trường.

Nhớ một lần vào giờ Triết của thầy Lập. Không biết các bạn nam “ thám thính ” được chuyện gì mà vừa vào lớp, Hồ Trung đã hỏi Kiến Thiết có mang vở không. Thiết hỏi để làm gì. Trung bảo lát nữa “ảnh”có kiểm tra bài thì mượn. Giờ học đã diễn ra đúng như thế. Người đầu tiên bị dò bài : không thuộc ! Người thứ hai cũng thế. Một bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt bao trùm cả lớp. Đột ngột thầy nhằm vần T và kiểm tra vở. Đầu tiên là Hồ Trung. Trung nhanh tay chớp lấy vở của Kiến Thiết rồi ngoan ngoãn lên trình thầy. Người tiếp theo là Kiến Thiết. Thiết chụp ngay vở của Huỳnh Thu và cũng thoát nạn. Người thứ ba là Huỳnh Thu. Thu quýnh quáng mượn vở Quang Vinh. Vinh khư khư giữ chặt vở trong tay. Thu đành đi tay không lên và nhận một con zéro to tướng, về chỗ mà cứ hậm hực mãi. Lúc tan học cũng chỉ biết dứ dứ nắm đấm vào phía Trung, Thiết mà cằn nhằn nho nhỏ chứ không dám méc thầy.

Có lần cô Tưởng dạy Anh Văn gọi Thu lên dò bài. Không nhớ cô hỏi gì và Thu trả lời sao nhưng bỗng dưng tai Thu cứ đỏ lên. Hồ Trung, Kiến Thiết cắc cớ hỏi cô sao tai Thu đỏ. Chuyện đó làm cho Thu có thêm biệt danh “ Thu tai đỏ ”.

Rồi chuyện Thái Thanh dành chỗ với Kiến Thiết. Chả là lúc đầu 8 đứa chúng tôi ngồi 2 bàn trên. Có một hôm, chúng tôi đi học trễ. Lợi dụng cơ hội đó, Hồ Trung và Kiến Thiết hiên ngang nhảy lên bàn nhất ngồi. Chúng tôi lẳng lặng rút xuống bàn hai và ba. Riêng Thái Thanh cứ cương quyết giành lại chỗ cho bằng được. Hồ Trung thấy thế bèn chạy xuống bàn dưới. Kiến Thiết cận thị vẫn “oai hùng ” bảo vệ vị trí vừa chiếm được. Từ đó Thiết ngồi một đầu, Thanh ngồi một đầu theo kiểu “ anh ở đầu sông, em cuối sông ”. Cho đến một hôm chẳng biết vì cớ gì, Kiến Thiết nghỉ. Một mình Thái Thanh “ Thiếp tại Tương Giang vĩ”. Mất đối trọng nên chiếc ghế chỏng gọng, Thái Thanh “ giơ tay với thử trời cao thấp ”. Cả lớp được một trận cười no. Thanh ấm ức sáng hôm sau chiếm lại vị trí đầu bàn ở lối đi giữa - chỗ ngồi quen thuộc của Thiết. Thiết đến sau :
       - Xê vô !
Thái Thanh bậm môi, trả lời gọn lỏn :
       - Không !
Thiết kiên nhẫn lặp lại một lần nữa. Vẫn tiếng “ không ” lạnh lùng. Thiết đành chạy xuống nói nhỏ với Trung :
       - Ê ! Giành chỗ mày ơi !
Từ đó, Thiết và Thanh ai đi sớm thì được ngồi vị trí đắc địa ấy. Vị trí quan sát được toàn bảng, thấy được nhất cử nhất động của thầy cô, nghe rõ từng lời của thầy cô và bạn bè, tạo điều kiện tốt nhất cho việc học tập. Nghĩ thật buồn cười. Xưa học sinh khá giỏi luôn thích ngồi đầu bàn để có thể vừa tiếp thu bài tốt vừa hỏi thầy cô những chỗ chưa hiểu và tranh luận về những chỗ có nhiều ý kiến khác nhau. Còn học trò bây giờ chỉ thích chọn chỗ ngồi ngoài vòng kiểm soát của thầy cô để tiện bề làm việc riêng.

Rồi chuyện Thúy Nga hù tôi. Trong nhóm nữ, nhà tôi ở gần trường nhất, tôi thường hẹn các bạn ở ngã ba Đinh Tiên Hoàng - Hòang Diệu và tiếp tục cùng nhau đến trường. Một hôm, không hẹn, một mình đến lớp, tôi cố thu mình, men theo hàng tre bên trái, nhanh chân bước vào lớp. Ở hiên lớp, vài ba nhóm bạn nam. Trong lớp, loáng thoáng vài bóng dáng bạn tôi. Vừa chuẩn bị đặt chân vào cửa lớp, một bạn nam - tiếc thay cả KS và tôi không nhớ là ai nữa, hình như đó là Long Xuyên hoặc Phát, đột ngột vượt qua tôi, ập vào lớp. Một tiếng “ hù ” vang lên, một bóng người trong tư thế giơ hai tay lên cao, vồ xuống và xém chút nữa đã chụp trúng bạn. Quanh đó Ái lúng túng đỏ cả mặt; KS, Loan ôm bụng cười. Ngơ ngác. Hoang mang. Mấy phút sau tôi mới hiểu việc gì đang xảy ra. Thì ra mấy nàng định hù doạ tôi cho vui. Thúy Nga núp, Ngọc Ái đứng quan sát và ra ám hiệu. Ai ngờ một bạn nam xuất hiện đột ngột. Nga doạ nhầm người làm toàn bộ bạn trai đang đứng ngoài cửa lớp và người bị hù ngơ ngác không hiểu vì sao. Còn Ái, sau đó cứ theo Nga mà xin lỗi, mà thanh minh mãi.

Lại nhớ chuyện Loan thức khuya dậy sớm học thi, xỉu tại lớp. Chúng tôi đưa Loan lên phòng y tế, cạo gió trầy cả da mà vẫn không tỉnh. Rồi chuyện một đứa nghỉ, cả bọn rụt rè đội đơn lên xin thầy Khoái làm thầy phải nói : “ Có một lá đơn mà phải 7 đứa khiêng lên ư ? ”

Rồi một chuyện nữa về Huỳnh Thu. Mỗi lần thầy cô dò bài, bao giờ Thu cũng đọc ro ro. Nếu bạn có chớp mắt nhìn lên trần nhà thì các bạn nam lại xì xào bảo Thu đang nhớ lại xem câu hỏi đó nằm ở trang nào, dòng thứ mấy, có dấu chấm hay dấu phẩy nào không… Hồi đó, a dua theo lớp, chúng tôi cũng cười. Bây giờ tôi mới hiểu được hiệu quả của cách học : mắt nhìn, miệng đọc, tai nghe, tay viết. Cách học này giúp học sinh hiểu sâu, ghi nhớ tốt và nhớ rất lâu. Như Hồ Trung, Kiến Thiết, Quang Hưng đã từng trêu Thu : “ Nó nhớ đến từng dấu chấm, dấu phẩy ! ”.

Chuyện Huỳnh Thu vừa giỏi, vừa chăm làm tôi nhớ lại các bạn nam trong lớp. Từ lớp 1 đến 11, chúng tôi học cũng không xoàng. Nhưng khi học chung với các bạn nam, nhiều đứa chúng tôi đành chào thua. Các bạn ấy học thật siêu. Thầy Chắc vừa mới đọc đề toán, tụi nó đã biết đề ở đâu, trang mấy. Thầy vừa đọc xong đề, tụi nó đã vẽ xong hình và hoàn thành bài giải. May ra chúng tôi chỉ có thể hơn được những môn học bài và mỗi KS còn có thể được xem là đối thủ của các bạn nam. Nguyễn Công Trứ đã viết :

“ Thông minh nhất nam tử
Yếu vi thiên hạ kỳ
Trót sinh ra thì phải có chi chi
Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu ”.

Thảo nào các bạn nam học cực kỳ giỏi, chúng tôi có “ cày ” mấy cũng theo không kịp.

Biết bao kỷ niệm. Có một kỷ niệm giờ nhớ lại chúng tôi vẫn thấy đúng là “ nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò ”. Đó là một lần chúng tôi có giờ trống. Thầy Nho, thầy Chắc, thầy Quý thuê nhà ở gần trường. Tôi lại có một cô bạn ở sát vách nhà thầy. Với sự nội gián của nó, chúng tôi kéo qua nhà thầy đại náo: hái xoài xanh, lấy trộm muối ớt, mắm ruốc trong nhà bếp, đổ hết nước sôi trong phích, bỏ muối vào rồi thi nhau dấu tất cả giày dép của thầy. Sau đó, cả 8 đứa kéo về lớp, gọt xoài, bày mắm ruốc, muối ớt la liệt trên bàn. Vài đứa giả vờ lên văn phòng mời thầy Chắc xuống giảng dùm một bài toán. Chả là lúc đó thầy mới ra trường, còn rất nhiệt tình, học sinh chưa hiểu chỗ nào thầy đều tận tâm giảng lại. Thầy vừa bước vào lớp, 8 đứa đã đồng thanh : “ Mời thầy ăn xoài của nhà thầy ”. Ngắm một lượt, thầy chỉ biết lắc đầu, cười trừ và quay về văn phòng.

Tiếng chim sẻ ríu rít ngoài sân đưa tôi về thực tại. Trong lớp các em chăm chú làm bài. Ngoài sân, trời rải mây trắng nhạt, khí trời mát mẻ, gió thoảng nhẹ. Bầy chim sẻ, chim sáo ríu rít chuyền cành. Đâu rồi thầy cô… Đâu rồi bạn bè… Đâu rồi bước chân chúng tôi ngày trước... Bùi Hoàng Sơn, thổ công của lớp, bảo trường xưa giờ còn lại cột cờ nhưng đã thay đổi vị trí và mất một đốt; còn lại cổng trường nhưng cũng đã khác xưa; còn lại nền sân bóng rổ nhưng không thể thấy vì một khu nhà đa năng đã được xây dựng nơi đó.

Cũng phải thôi. Đổi thay là quy luật tất yếu. Biết thế nhưng lòng vẫn bâng khuâng, vẫn ngậm ngùi. Càng ngậm ngùi hơn khi BHS cho biết Tâm đang suy thận, Long Xuyên vất vả với áo cơm, bạn thì bị gút… Nam của lớp ở Pleiku còn lại BHS, KT, Phát, Cứ, Bá Đào. Tám “ con vịt ” ngày xưa thì Đào, Hoa, Ái ở bên kia xa lắc; Nga, Loan ở Sài Gòn; Thái Thanh đã mãi mãi đi xa; KS và tôi vẫn ở Pleiku. Và KS vẫn luôn là người khởi xướng, tôi là người hưởng ứng. Hạnh phúc biết bao khi có một tình bạn gắn bó thân thiết từ thời đi học và mãi vững bền như thế!


Pm Nguyễn Thị Đức-04/2009