NHỚ VỀ MỘT NGƯỜI THẦY…
Nguyễn Thị Đức
o0o
Niên khoá 69- 70, năm chúng tôi học đệ ngũ, trường Nữ Trung học Pleime thay đổi khá nhiều. Đầu tiên là sự thay đổi tên lớp: từ đệ thất, đệ lục, đệ ngũ,….sang lớp 6, lớp 7, lớp 8,…. Rồi trường có thêm nhiều thầy cô giáo mới, trong đó có thầy Cao Đình Vưu.
Lúc đầu, thầy dạy Việt văn ở lớp 8 và thầy là giáo sư hướng dẫn lớp 8 chúng tôi. Một thời gian sau, thầy chuyển sang dạy Địa lý. Chúng tôi được học Việt văn với thầy không nhiều và đọng lại trong chúng tôi không phải là những bài giảng văn như thầy đã viết:
“Thời trai trẻ giảng thơ Đồ Chiểu,
Nghi học trò không hiểu lời ta
Phải lòng chàng Vân Tiên khô khốc
Thì oan khiên biết đến bao giờ”
Đọng lại ở lứa chúng tôi chính là tâm hồn thầy, là những gì thầy đã trăn trở, thao thức và tìm cách thắp sáng trong mỗi chúng tôi.
Quả thật, chúng tôi không bao giờ quên vị giáo sư không chút quan tâm đến ngoại hình nhưng lại có giọng Bắc truyền cảm, có cách giảng từ tốn nhưng bay bổng ngoài những dòng chữ trong sách giáo khoa. Thầy không “tuần tự nhi tiến”dạy hết các bài trong sách. Những giờ lên lớp, thầy như muốn khơi gợi, dẫn dắt chúng tôi điều gì đó về thời thế, về tâm trạng của một lớp người “ sinh bất phùng thời”. Và chúng tôi đã nhớ như in những lời giảng của thầy trong giờ Địa lý: Nhật Bản với cuộc cải cách của Minh Trị Thiên Hoàng; Nhật Bản với sự khắc phục khó khăn vì động đất, núi lửa; Nhật Bản với kỹ thuật trồng rau trên biển; Nhật Bản với những lời huấn thị của các quan chức trong ngày khai giảng- những lời huấn thị chất chứa sức nặng của sự thật, hoàn toàn sự thật- để con cháu của đất nước Nữ thần Mặt trời thấy rõ, hiểu rõ và có hành động thiết thực ngay từ khi còn miệt mài trên ghế nhà trường…..Cứ thế, những lời giảng của thầy thật sự đã chắp cánh cho trí tưởng tượng, cho ước mơ của chúng tôi bay bổng. Bọn trẻ chúng tôi đợi chờ những giờ dạy của thầy: không rót tràn kiến thức, không bám sát sách giáo khoa mà chuyển tải những kiến thức ngoài trang sách, thắp lên ngọn lửa ước mơ, thắp lên hoài bão cao đẹp ở mỗi chúng tôi.
Có lẽ với quan điểm dạy sao cho học sinh không trở thành những con mọt sách với lối học từ chương, khoa cử mà những kỳ thi đệ nhất, đệ nhị lục cá nguyệt thầy đã không bắt chúng tôi phải ôm cả quyển sách giáo khoa để tụng ra rả như cuốc kêu mùa hè. Thầy chỉ giới hạn một vài bài nhưng rất khắc khe trong quá trình thi cử. Thời đó, thầy cô nào cũng nghiêm túc như thế. Do đó, chúng tôi được giáo dục rất nhiều về lòng tự trọng: thà ở lại lớp, thà bỏ giấy trắng chứ không hề quay cóp. Tôi nhớ mãi một lần, đang coi thi, bỗng nhiên thầy bỏ ra ngoài, lũ chúng tôi quay ngang quay ngửa, tranh thủ hỏi bài. Bất chợt giọng nói trầm, nghiêm khắc của thầy vang lên. Chúng tôi giật mình, hoảng hốt nhìn ra cửa lớp: không có bóng thầy! Càng sợ hơn, chúng tôi dáo dác nhìn quanh quất, và vô cùng bất ngờ khi thấy thầy xuất hiện ở bức tường phía sau lớp. Thầy đang đứng cạnh cửa sổ sau của lớp học, nhìn chúng tôi bằng ánh mắt vừa nghiêm khắc vừa buồn rầu. Từ đó, chẳng đứa nào dám có ý nghĩ quay cóp, trao đổi bài khi đến giờ kiểm tra của thầy.
Đó là một vài kỷ niệm của chúng tôi về thầy, kỷ niệm nhỏ nhưng vô cùng sâu sắc. Xưa, được học thầy. Nay, trên bục giảng ngày ngày chúng tôi lại tìm mọi cách để mở ra một chân trời mới lạ, vẫy gọi học sinh mình vươn tới.
Nhưng ấn tượng lớn hơn mà thầy đã để lại cho chúng tôi từ năm đệ ngũ là tập thơ “ Bản thảo một đời”. Thật vậy, còn gì tự hào hơn khi thầy giáo của mình là một nhà thơ. Ngày ấy, nhà trường luôn tạo điều kiện cho các bút nhóm đến từng lớp để giới thiệu và phát hành tác phẩm. Cùng thời gian tập thơ “ Bản thảo một đời” của thầy, còn có tập thơ “ Ra đi giã từ hơi thở” của tác giả Lữ Tùng Anh với lời đề từ cho cả tập:
“ Óc tim cô đặc hồn thi sĩ
Vắt tặng cho đời mấy giọt thơ”
Lũ nhóc chúng tôi vừa đọc, vừa cười. Nhưng khi đọc các bài thơ của tập “ Bản thảo một đời” thì chúng tôi không cười được nữa. Có một nỗi niềm, tâm trạng, có một nỗi sầu nhân thế nào đó đã khiến chúng tôi, những con bé đệ ngũ, mới 13,14 tuổi đầu. chưa biết yêu là gì, lại ngấm và thuộc lòng những câu thơ:
“ Bởi yêu em nên phải về xứ nóng
Xứ mưa dầm và cung cách trang nghiêm
Anh vẫn yêu như là thể hiện
Bản chất liều tàng trữ bên trong”
Đoạn thơ khiến chúng tôi liên tưởng đến cô Chức Em, nửa thứ hai của thầy. Cô người Huế, rất dịu dàng, mỏng mảnh, cũng là giáo sư dạy trường Nữ trung Học PleiMe. Và càng cảm thấy bâng khuâng hơn khi đọc đoạn tiếp:
“ Giờ mọi sự dẫu sao dã có
Đã có em và đã có anh
Có chúng ta nơi chùa Thiên Mụ
Có dòng sông mườn mượt trôi qua
Ôi dòng sông lãng mạn vô bờ
Trách chi em không liều, hẳn thế
Khi đưa anh về Huế, bởi vì
Anh là kẻ mang nhiều thương tích
Nên dáng đi như kẻ lưng gù
Thương tích của mẹ, thương tích của cha
Bao nhiêu kẻ trao cho một kẻ”
Và
“ Thơ của anh cũng như đời của anh
Cứ mỗi ngày buồn thêm một ít
Nụ cười hồn nhiên kể như đã hết
Anh biết lấy gì để tiễn đưa em”
Đó là những đoạn thơ tình mà theo cảm nhận của những con bé 13, 14 tuổi bấy giờ là rất hay và lạ thay, nay đã là những bà nội, bà ngoại chúng tôi cũng vẫn ngấm, cũng rất thích ngâm nga. Song không phải nữ sinh Pleime chỉ thuộc những bài thơ tình trong tác phẩm “ Bản thảo một đời” mà trong tập thơ này, chúng tôi vô cùng xúc động khi đọc những dòng thơ thầy viết tặng con gái đầu lòng:
“ Tặng cho con trái tim đau của bố
Đã ngậm ngùi muốn khóc thay con
Muốn nằm thay vào chỗ con nằm
Chỗ ẩm ướt nhà bảo sanh miễn phí
Con sinh ra tám giờ đêm tỉnh lẻ
Đời âm u cũng tựa như đèn
Gió lên đầy hai dãy hành lang
Hành lang rộng như lòng của bố
Tặng cho con những người quen kẻ lạ
Sống lang thang như bố một phường
Cả gia tài chỉ có đôi chân
Quà của Trời tặng cho miễn phí
Tặng cho con cuộc đời không yên nghỉ
Đời gập ghềnh, khúc khuỷu, lênh đênh
Như tên lao. bố chẳng ngập ngừng
Dù nơi đó lửa hơ rát mặt
Khi lớn lên hẳn con sẽ biết
Sự thật này trả giá bao nhiêu
Mút ngón tay chẳng thấy ngọt ngào
Đâu là sữa ở trăm đường mộng ảo”
hoặc những lời tâm sự của thầy với học trò:
“ Chúng ta bây giờ như những mộ bia
Ghi đầy đủ tên những người đã chết
Và chúng ta như những tên hề diễn kịch
Một vở tuồng chưa biết kết ra sao
Cửa tương lai không có lối vào
Mấy chục năm thầy đứng ngoài bức rức
Lời giảng cất lên u trầm cả lớp
Theo cửa ra ngoài tan loãng trong sương
Nhìn các em ta mới nhận ra mình
Cũng như thế từ những ngày còn trẻ”
Phải chăng vì mang tâm trạng u uất ấy nên đôi lúc thầy đã cáu kỉnh, vô cớ phạt chúng tôi rất nặng : zéro hạnh kiểm hoặc hỏi vặn hoặc phán những câu làm chúng tôi buồn và phải tự nhìn nhận lại mình.
Thời gian cứ lặng lẽ trôi qua. Bao kỷ niệm buồn vui, bao nhọc nhằn trong cuôc sống nhưng những câu thơ trong tập “ Bản thảo một đời ” của thầy đã luôn đồng hành cùng chúng tôi trên đường đời :
“ Tôi là chiếc xe bò đã cũ
Ngày lại ngày tôi chở tôi đi
Ngày lại ngày tôi chở tôi về
Trên một chiếc xe bò đã cũ”
Và
“ Ở cao nguyên lúc nào cũng thú
Chẳng cứ gì mùa hạ mùa đông
Chẳng ngựa xe hoan hô chúc tụng
Và chẳng ai nhận ra ta
Nên ta yên tâm uống rượu trong nhà
Trong cô độc mới thấy mình sảng khoái”
Những câu thơ có rất nhiều giới từ, liên từ: “ bởi…nên ”, “ và ”; những câu thơ được ghi theo trí nhớ của những người đã xấp xỉ lục tuần. Có thể là chưa thật chính xác, mong thầy và các bạn thể tất cho. Đến nay, tập thơ “ Bản thảo một đời” với người Pleiku thì không ai còn giữ được nhưng tác phẩm ấy vẫn sống mãi trong lòng nữ sinh Pleime một thuở để:
“ Có những phút ngả lòng
Tôi vịn vào câu thơ mà đứng dậy”
( Phùng Quán)
Thầy ơi! Nữ sinh Pleime mãi mãi không bao giờ quên thầy- kể cả những bạn ngày xưa đã phải rơi bao giọt nước mắt vì bị thầy la rầy trách mắng…
Nguyễn Thị Đức
Cựu học sinh Nữ Trung học Pleime