bạn học 4

  Nguyễn thị Đức


        ---o0o---




   Một chuyến đi ! Chúng tôi đã ấp ủ chuyến đi mơ ước này từ rất lâu. Một trong những người luôn nhắc về chuyện này là Thế, bạn học với tôi từ năm 1962 ở trường Nam tiểu học cộng đồng. Cô giáo lớp 1 của chúng tôi là cô Đăng. Cô người Bắc, tuổi đã cao, vóc dáng cao lớn, mặc áo dài rộng, vấn tóc, đặc nét miền Bắc. Cô rèn cho chúng tôi từng nét chữ. Các con chữ a, chữ g đứa nào viết không kín, không tròn nét bị khẻ tay là cái chắc. Chữ h, chữ m, l, viết không thẳng, nét run, không đều cũng bị khẻ tay, xoắn tai. Không biết có phải vì cô giáo lớp 1 có tính cẩn thận, tỉ mỉ, yêu cầu cao với học sinh không mà ngay từ bé, Thế cũng kỹ tính và khó chịu như một bà cụ non : quần áo, guốc dép, sách vở, cặp sách, tóc tai của nó lúc nào cũng sạch sẽ. Ngoại hình của nó khá dễ coi : Đôi mắt to, thăm thẳm, mũi cao, viền môi rõ nét, làn da ngăm ngăm, giọng nói nhẹ, truyền cảm. Thế làm lớp trưởng từ lớp 6 đến lớp 11. Sáu năm trời lặng lẽ đi lấy và cất sổ điểm, sổ đầu bài, không lên giọng bắt nạt bạn bè như nhỏ Quí B - lớp trưởng hổi lớp 5. Quí B thật dữ dằn. Có lần cô Oanh chưa vào lớp, nó cầm thước, trợn mắt nạt nộ bắt chúng tôi im lặng. Chẳng nhớ Cao Thị Hoa - đứa bạn trắng trẻo, hiền lành – làm gì mà nó trút cơn giận dữ lên Cao Hoa : bắt Cao Hoa quỳ gối đi từ bên này sang bên kia phòng học mà chẳng ai lên tiếng. Có lẽ thời xưa học trò vừa tôn trọng vừa sợ thầy cô nên sợ luôn cái uy của lớp trưởng. Còn lớp trưởng Thế chỉ im lặng cười, chẳng bắt nạt bạn bè.

    Trong các bạn học của tôi thì Thế có gia cảnh khá buồn. Năm lớp 5 cả lớp bàng hoàng khi nghe tin mẹ Thế mất trong một tai nạn thương tâm. Đứa nào cũng thì thầm với bố mẹ về nỗi mất mát của bạn. Vì vậy Thế được mẹ của nhiều bạn trong lớp quan tâm, nhất là mẹ của Trang. Rồi năm lớp 8, anh trai Thế lại đột ngột ra đi trong một tai nạn xe cộ. Đau thương phủ kín gia đình bạn. Rồi bố bạn tái hôn, bạn có dì - một bà dì khó chịu và cay nghiệt. Tôi không thích bà và bà cũng không hề ưa tôi. Mỗi lần xuống nhà, tôi cứ phớt tỉnh trước sự xét nét của bà ta.

   Năm 1975, bố Thế mất, gia đình còn lại 3 chị em. Sau khóa sư phạm cấp tốc, chúng tôi trở thành cô giáo. Những năm đầu tiên bước vào đời, Thế có nhiều thuận lợi hơn tôi : dạy giỏi, học trò theo học kèm đông. Rồi Thế gặp một số chuyện rủi ro, có lúc bị sa vào vòng lao lý, có lúc phải đương đầu với búa rìu dư luận, và bỏ dạy về Sài Gòn sống bằng nhiều nghề mà chủ yếu là vi tính văn phòng.

    Năm 2002, Thế đã cùng thầy Hùng ( hồi đó chưa được phong là mục sư ) đến bệnh viện thăm, giúp tôi và Liễu - một người Pleiku cũng đang bị bệnh - một ít tiền. Khi tôi nằm bệnh viện, Thế có đem cho tôi một bữa cơm với rau luộc, trứng mà nó cứ trăn trở mãi vì không có món gì ngon và bổ. Thật buồn cười “ một miếng khi đói bằng gói khi no ” nghĩ sao mà vớ vẩn quá, Thế ơi !

   Năm 2007, Thế bị bệnh hiểm nghèo trong khi đã thất nghiệp khá lâu : không có tiền, không có bảo hiểm y tế để chữa bệnh, chỉ có đức tin và nước mắt. Phải chăng vì đức tin rất mạnh mà Thế có được sự giúp đỡ của bạn bè, thầy cô ở các phương trời và dần vượt qua tất cả : bước đầu chiến thắng bệnh tật, trở về Pleiku để có được một công việc phù hợp với tuổi tác, sức khỏe; đồng thời có dịp gặp bạn bè để tin yêu cuộc đời hơn và mơ ước về một chuyến đi. Nhưng bạn bè toàn là nữ và giờ đây đã trở thành bà ngoại, bà nội cả - những người bà cả đời sống vì chồng, vì con nay lại dốc lòng chăm chút cho đàn cháu như nhà thơ Hồ Dzếnh đã ca ngợi :

      Cô gái Việt Nam ơi !
      Nếu chữ hy sinh có ở đời
      Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
      Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

   Hoặc như những bà mẹ Tây Nguyên trong thơ Phạm Đức Long :

      Mẹ cõng cả một thời dĩ vãng.
      Bao tháng ngày mưa nắng
      Cõng củi cưới chồng
      Cõng cái ăn về nhà nuôi con
      (…) Rẫy hút xa
      Rừng hút xa
      Nơi mặt trời lên
      Nơi mặt trời xuống
      Có những cuộc đời mãi mê làm lụng
      Lặng lẽ quên mình
      Ngày qua ngày
      Cõng chiếc gùi sự sống trên lưng

   Thì chắc hẳn mãi mãi đó chỉ là một chuyến đi trong mơ. Muốn trở thành hiện thực có lẽ phải kết nạp các đấng phu quân của bạn bè làm hội viên danh dự. Xưa ông cha ta đã có câu : “Có nam có nữ mới nên xuân” Thu Đào và các bạn vẫn nhớ câu này chứ ?


    Ngọc Ái, cô bạn có mái tóc dài, đôi mày đậm, mắt to cũng có thời chuyên lên gặp cô Yến, cô Minh ở văn phòng để lấy và cất sổ sách của lớp. Nhà Ái ở đường Trịnh Minh Thế, con đường xanh bóng cây đẹp nhất Pleiku trước 1975 và có nhiều bướm, nhiều sâu nhất. Bố mẹ Ái làm việc và ở tại Đài vô tuyến điện. Nét nổi bật ở Ái là bạn thật đảm đang : chợ búa, bếp núc, may vá, thêu thùa, đan móc… việc nào bạn cũng giỏi. Gia đình bạn rất căn bản. Lương thực và các nhu yếu phẩm như gạo, mắm, dầu ăn, đường, sữa… đều được mua từ đầu tháng, khi mới có lương. Hàng ngày chỉ mua rau, thịt, cá. Quen nếp gia đình nên bạn giỏi công việc nội trợ từ nhỏ.

    Sau 1975, Ái là cô giáo rồi sau đó đi xóa mù chữ ở xã Đông An Khê. Nơi Ái ở là một căn nhà sàn của đồng bào dân tộc Bahnar ẩn dưới tán lá rừng. Đoàn xóa mù ban ngày hội họp, sinh hoạt bình thường. Khi chiều buông xuống, bà con đi rẫy về, thanh niên trong làng bắt đầu mang nhạc cụ ra chơi thì các thầy cô giáo đốt đèn, đốt đuốc vận động bà con ra lớp. Lớp học tuềnh toàng, nền đất, mái tranh, vách nứa, dăm ba bộ bàn ghế, cái bảng gỗ, đuốc và đèn, thầy cô và vài ba thanh niên, em nhỏ… cứ thế miệt mài đến 8, 9 giờ tối và ngày mai lại bắt đầu như thế !

    Có một lần Ái rủ tôi xuống xã Đông. Sau mấy tiếng đồng hồ bị nhồi nhét trên một chiếc xe chạy bằng than, đến An Khê chúng tôi xuống ở một ngã ba, rẽ trái vào xã Đông. Đợt ấy là mùa khô. Con đường đất bị đoàn xe be chở các bi gỗ tròn xé nát, mấp mô, khúc khuỷu, một lớp bột đỏ nhờ nhờ ngập bàn chân. Vừa đi chúng tôi vừa dòm chừng để vẫy xe gỗ quá giang. Trầy trật mãi rồi cũng đến con đường mòn rẽ vào khu rừng có làng của Ái ở. Đường mòn quanh co, chỉ đủ một người đi và ngập lá cây rừng. Chung quanh là các cây cổ thụ, cây bụi, lùm tre… Gần đến làng, những nóc nhà sàn thấp thoáng hiện ra. Những đàn lợn thả rong, những đàn gà.

    Chủ nhà, một đôi vợ chồng Bahnar tuổi đã cao, thấy Ái về rất vui - một niềm vui thật hồn nhiên. Họ cười giơ cả hai hàm răng rụng gần hết, trơ lại lợi. Ái đưa ra những vật họ nhờ mua, một ít món quà cho con họ và nụ cười của họ càng rạng rỡ hơn. Ái nấu cơm, nấu chè chuối đãi tôi. Không cao lương mỹ vị nhưng ngon lạ ! Chiều, Ái dẫn tôi ra suối, chỉ vẻ tôi cách gội đầu và cách tắm suối. Ái mềm mại quay tóc khéo léo như các cô gái Bahnar. Còn tôi thì cứ lụp chụp, lóng nga lóng ngóng làm tiếng cười vang cả một khúc suối.

    Cuối năm 1976, Ái lập gia đình, sinh bé Việt Hương rồi về Sài Gòn. Mỗi khi về Pleiku thăm ông bà ngoại, cảnh vật ở phố núi làm Việt Hương vô cùng thích thú. Nhưng bé sợ chó vô cùng. Hỏi sao thế thì được nghe câu trả lời ở Sài Gòn nhà không nuôi chó và không thấy nhiều chó như ở Pleiku. Giờ thì Hương đã có gia đình, đã có em bé. Ngày ngày Ái vẫn sang thăm con và cháu ngoại, nghe cháu bi bô tập nói. Việt Hương ơi, cháu có còn sợ chó ? Và Ái nữa, Ái vẫn áo ka tê xanh thêu hoa, vẫn chiếc quần tây giản dị, vẫn giọng nói nhỏ nhẹ và vẫn hiền thục, đảm đang như bạn bè đã từng nhớ về bạn ?

   Xã Đông ngày nay rừng núi đã lùi xa, đường sá thông thoáng, xe cộ qua lại không ngớt. Em trai Kim Sen lấy vợ và làm việc ở đó. Về lại Pleiku, ta sẽ đi thăm xã Đông thật dễ dàng, đường nhựa chạy thẳng vào làng. Chỉ e rằng Ái thành khách lạ của xã Đông vì còn đâu người xưa cảnh cũ…


   Bích Lan, một trong hai người bạn lớp tôi mà khi về Pleiku VBQ đã lặn lội đi tìm và giờ thì cứ hỏi e-mail. Thời đi học Lan có khuôn mặt đẹp, vóc dáng đẹp, nói chuyện thu hút, đặc biệt có tài nấu nướng. Sau 1975, với sở trường sẵn có, Lan mở quán chè, quán cơm, quán cháo dinh dưỡng, phở, bánh canh, bún riêu… Quán nào cũng đông khách. Giỏi bếp núc, có lộc buôn bán, có tay nuôi người nhưng Bích Lan “ Tay làm hàm nhai ” lo đủ sở hụi cho một gia đình 5 con + cháu nội – cháu ngoại. Quần quật suốt ngày mà nó vẫn vô tư, gặp bạn bè vẫn cười hết cỡ, cuộc họp mặt nào cũng có nó. Bạn bè ở xa về Bích Lan thường ra tay bếp núc, mời bạn bè. Ông xã Bích Lan vui tính, quen với hầu hết chúng tôi nên đến nhà nó thật thoải mái, chẳng phải e dè, khép nép, cứ tha hồ mở volume hết cỡ mà cười nói, mà thi nhau kể chuyện. Bích Lan rất thơm thảo : đi chợ mua rau thì các bà cụ vô cùng thích, nó chẳng trả giá, chẳng cò kè; thấy bạn bè khổ nó sẻ chia từ chén chè, tô phở, bát bún đến bộ quần áo, chiếc xe đạp. Ngày tôi mới điều trị ở Sài Gòn về, Minh Trang bảo : “ Chiều chiều mày chịu khó ra quán Bích Lan là có đủ cả cua, tôm và thịt. Mau lại sức lắm ”. Bích Lan cười : “ Ừ, cứ ra đây ! ”. Nó sống thật xởi lởi nhưng người đời thường bảo có tài thì có tật. Giờ đã tri thiên mệnh nếu bạn tu chí làm ăn thì bạn bè sẽ vô cùng tự hào về Lan đấy. Và cái tên thời đi học : Bích Lan sẽ mãi vang lên để mỗi khi nghe “ Cho cô gặp Bích Lan ”, bạn lại cười nói với mọi người : “ Bạn học của cô đó ! Chỉ có bạn học mới gọi cô là Bích Lan thôi ! ”


   Ừ, chỉ có bạn học mới gọi nhau bằng những cái tên mà người đời không biết. Nga vẫn thường gọi tôi là Hitler, các bạn gọi Thế là Cầm Đồ, Đào được gọi là Phạm Thị Không Thủ Đạo, Kim Vân được gọi là Chim Chích đấy thôi....

    Người có biệt danh là Phó Tông Tông chính là Vượng Tư, lớp trưởng thất 1, nhà ở đường Đinh Tiên Hoàng. Vượng Tư có dáng người cao, nước da ngăm ngăm, tóc dài mềm mại, mắt to, viền mắt đen, rõ, mũi cao và hơi hếch. Anh em Vượng Tư nổi tiếng học giỏi. Vượng Tư có nhiều vệ tinh đeo bám, suốt ngày mộng mơ. Tuổi mới lớn bồng bột, tính khí thất thường, lúc vui lúc buồn. Có lần đang giờ thầy Chảng, Vượng Tư một mực xin thầy cho nó lên bảng hát một bài. Thầy đành phải cho lớp nghỉ mấy phút, Vượng Tư bước lên vừa hát vừa diễn xuất : “ Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa, cho tôi về đường cũ nên thơ, cho tôi gặp người xưa ước mơ… ” tiếng hát vang sang các lớp bên cạnh, lan ra sân trường. Vượng Tư ơi, người xưa ấy là anh S kiên trì đeo đuổi làm Vượng Tư phải ăn roi của ba mẹ hay một anh nào khác ? Anh nào làm tim Vượng Tư thổn thức không yên năm 11 ? Còn nhớ chút nào không Vượng Tư ?

   Hỏi thế thôi chứ tôi và các bạn luôn tin không bao giờ Vượng Tư quên kỷ niệm thời đi học. Nhớ năm nào Thanh Hiền từ Đà Nẵng về, Thu Hà tập trung được một số bạn kéo nhau đi chơi từ chiều. Tôi bận, không tham gia được. Khoảng 9 giờ tối cả bọn kéo tới nhà. Không có phòng khách, bạn bè chia nhau ngồi vào bàn ghế học sinh. Có đứa lại khoanh tay trên bàn. Vượng Tư không ngồi, nó đứng trước bảng, tay cầm thước nhịp nhịp điều hành lớp như xưa đã từng làm. Cả bọn râm ran trò chuyện. Thật khuya Vượng Tư mới lên xe về Kon Tum, còn Thanh Hiền về khách sạn. Lại nhớ hồi họp mặt liên trường năm 2006, Vượng Tư cho xe xuống Pleiku từ 10 giờ sáng, kéo bạn bè đi ăn cơm trưa. Hai giờ chiều cho xe lên Gia Lu đón Chiêm rồi đón bạn bè ở nhà tôi. Các bạn đến khách sạn sớm, được gặp thầy cô, chuyện trò và chụp biết bao pô ảnh đẹp. Họp mặt xong, Vượng Tư còn kéo chúng tôi đi Bè Bạn nghe hát và để Vượng Tư, anh Kiểm, Tú Phương dợt vài điệu trên sàn nhảy.

   Sau buổi họp mặt, Vương Tư đã cho người xuống Gia Lu giúp Chiêm làm giấy tờ đất. Nhưng lúc đó, huyện đã giải quyết xong đất đai của Chiêm. Dù chưa giúp được Chiêm nhưng việc giữ lời hứa đó đã khiến chúng tôi hiểu hơn về tình cảm Vượng Tư dành cho bạn bè và hiểu hơn mơ ước được sống lại thời học trò của mọi người :

      Đông đúc, ồn ào, tươi tắn, hồn nhiên.
      Ai chẳng có quãng đời thánh thiện
      Tuổi cặp tóc, mắt nghiêng nghiêng nhí nhảnh
      Tuổi hoa hồng, tuổi mực tím thiêng liêng
      Yêu mơ hồ mà cứ tưởng là yêu
      Giữ chặt lấy trong hành trang vốn liếng
      Một chiếc lá bay cũng thành kỷ niệm
      Hay lang thang trên những hè đường

   Bốn mươi năm đã trôi qua, các cô bé học trò ngày xưa vẫn mãi :

       Ngơ ngẩn tiếc ghế, bàn, thời mơ mộng
       Danh hiệu học trò
       Lạ kỳ sao
       Thèm níu lại tuổi ngây thơ
       ( Học trò – Ngô Văn Phú )


Nguyễn thị Đức
Cựu H/s TH Pleime