BẠN HỌC 5
-------o0o-------
Nguyễn thị Đức
Một ngày cuối năm 2008, báo Tuổi trẻ có một bài mang dòng tít : “ Có ai bán cái dịu dàng, tôi mua ! ”. Tựa bài báo làm tôi nhớ đến bao cô bạn nết na, hiền thục, đảm đang và rất mực dịu dàng thời đi học, trong đó có Ái Loan.
Theo Thuý Nga thì Aí-Loan học chung với chúng tôi từ lớp 3. Loan có nước da trắng mịn, vầng trán thanh thoát, đôi mắt đen và sáng. Vầng trán ấy, đôi mắt ấy đem lại cho người đối diên một khoảng trời êm ả, tĩnh lặng lạ thường.
Nhà Aí Loan ở gần Am Bà, nhìn xéo qua nhà Nga, một ngôi nhà khá rộng, ôm cả hai mặt đường Trịnh Minh Thế và Phó Đức Chính. Hàng rào trồng đầy hồng tường vi - giống hồng khoẻ, nhiều hoa. Trong khu vườn nhỏ, có nhiều loại hoa nhưng tôi nhớ nhất là hoa móng rồng.
Cũng như Ngọc Ái, thời trung học Loan sống hướng nội và hiền thục : Đi đứng khoan thai, nhẹ nhàng; nói năng chậm rãi, nhỏ nhẹ; học hành chăm chỉ, tính tình cẩn thận. Chỗ ngồi lên nước bóng loáng vì luôn được lau bằng mảnh giẻ ẩm. Cây bút máy dùng đã bao năm mà nắp và thân không hề có một vết xước, luôn được Loan cất trong một chiếc túi móc, xinh xắn. Giấy nháp phải dùng ít nhất hai lần : nháp bút chì trước sau đó tiếp tục tận dụng nháp tiếp bằng bút máy. Những hình vẽ, những bài toán, những con số được trình bày thứ tự, có lớp lang không như chúng tôi thường nháp ào ào. Mỗi người một tính nhưng vẫn chơi với nhau thật vô tư, hồn nhiên.
Xong tú tài, Aí Loan học sư phạm Banmêthuột. Những tưởng sẽ trở thành cô giáo nhưng sau 1975, bạn bỏ dở việc học, về quê rồi sống chủ yếu ở Sài Gòn. Mùa mưa 1976, một mình Loan về lại Pleiku hỏi thủ tục để lấy lại mấy căn nhà gia đình cho thuê trên đường Đinh Tiên Hoàng. Lúc đó Pleiku buồn hiu hắt : nhà cửa xuống cấp, điện nước cúp liên tục, đường sá lầy lội. Thấy thủ tục nhiêu khê, Loan về lại Sài Gòn và tôi thầm nghĩ có lẽ chẳng bao giờ bạn quay về Pleiku nữa!
Năm 1979, Sen cùng tôi về Sài Gòn và có đến nhà Loan ở đường Trần Hưng Đạo. Hồi đó cả nhà Loan ai cũng tất bật với công việc. Tối chúng tôi mới gặp Loan. Dù vậy bạn cũng thu xếp được một ngày đưa chúng tôi dạo chợ, mua khoai mì về hấp lá dứa thật thơm và ngon. Khi về bạn còn chu đáo gửi cho chúng tôi những gói bột nở và hướng dẫn cách làm bánh bao ( thời đó, cả nước phải ăn độn. Hạnh phúc nhất là độn bột mì Canada - loại bột mà hai chúng tôi đã chở vào Sài Gòn làm Loan phải tìm mối bán giúp ).
Rồi bạn lập gia đình. Ảnh đám cưới của bạn có cô Ngọc Dung, có Thuý Nga, Lê Như… niềm vui thật trọn vẹn. Hồi Loan sinh con gái đầu lòng, tôi có ghé thăm. Bạn vẫn đảm đang, dịu dàng và chịu thương chịu khó như xưa. Tôi đã được thưởng thức món cốt-lết chiên và món đông sương mát lạnh thơm phức mùi lá dứa, mùi dừa, mùi ca cao của bạn. Bây giờ còn một món mà bạn bảo ông xã bạn rất thích : Cơm gà Hải Nam. Năm 2008 về Pleiku, ăn gà luộc ở nhà Bích Lan, bạn nói gà Pleiku thịt dai, ngọt, đặc biệt da gà vàng ươm và dòn, thơm như gà ở quê chồng. Thế là bạn nhờ Bích Lan mua nào gà làm sẵn, nào thịt bò cấp đông xách lên máy bay đem về Sài Gòn. Trong khi Diệu Thảo nhăn nhó thì bạn cười thật hiền và bảo về sẽ làm ngay món cơm gà để ông xã cùng các con biết gà Pleiku ngon và rất giống gà ở quê nội Hải Nam - Trung Quốc.
Có lần ghé nhà bạn ở Bình Thạnh - lúc đó cả tôi và bạn đều đang bị đau; bạn phải nhờ sự giúp đỡ của gia đình bên kia bện mới ổn định được. Thấy những thùng hàng ngổn ngang nào là thùng tô melamine, nào là cá khô, muỗng ăn đậu hũ… Tôi hỏi đi buôn ư ? Bạn cười mang qua bên đó để mẹ nấu bún bò, nấu phở cho cả gia đình. Bún và phở trụng qua rồi để vào tô melamine, bỏ vào lò vi sóng vài phút cho nóng, sau đó mới chan nước vào, ngon lắm. Nghe bạn say sưa kể về công việc bếp núc ở phương trời xa tôi liên tưởng đến những câu thơ :
Dẫu làm cô Tấm, cô tiên
Vần xem bếp núc dành riêng phần mình
Dẫu là bà Triệu Thị Trinh
Khi ru nôi vẫn một hình dáng em
( Trần Mạnh Hảo )
Và có lẽ bạn là hình mẫu mơ ước của nhiều người : “ Phụ nữ phải dịu dàng, nữ tính. Không những phải biết ru con mà còn ru chồng, để cả cuộc đời êm đềm như một lời ru ”.
Còn Thu Đào, mỗi khi nhớ bạn, tôi liền nghĩ đến câu thơ : “ Tuổi cặp tóc, mắt nghiêng nghiêng nhí nhảnh ”. Thật vậy câu thơ đã chụp được, ghi lại được nét tiêu biểu nhất trong chân dung Thu Đào thời đi học. Bạn có một vẻ đẹp rất Tây : Tóc xõa vai, mũi cao, mắt to, khuôn mặt góc cạnh. Đi học bạn không mũ không nón mà chỉ lấy cặp che đầu những khi nắng trưa gay gắt; còn nắng sớm bạn ôm cặp trước ngực. Trên con đường Trịnh Minh Thế ngợp áo dài trắng, rộn vang tiếng guốc, tiếng nói chuyện, cười đùa thì Đào là một điểm nhấn góp phần làm sáng cả con đường xanh bóng cây khiến bao chàng thổn thức : “ Ta vẫn nhìn thấy em giữa đám đông xa lạ ”.
Đào thuộc tốp giỏi trong lớp, đặc biệt cô bạn ấy lại được nhà trường và thầy giáo cho vào đội văn nghệ của lớp, của trường; được đến nhà thầy để vào điểm, cộng điểm cho lớp; giúp thầy chấm bài kiểm tra trắc nghiệm… Thời trẻ con thì chúng tôi thầm tị nạnh với bạn. Còn bây giờ thật tự hào khi có một cô bạn giữ mãi nét thanh xuân, xinh đẹp, giỏi giang và tình cảm như Đào.
Học giỏi, trông yểu điệu thục nữ nhưng Đào cũng vô cùng tinh nghịch. Trò nào cũng có Đào. Các bạn biết rồi đấy : Biến cửa ra vào của lớp 11B thành sân khấu để trình diễn hợp ca, không cho thầy Cao dạy thì Đào làm nhạc trưởng; bất hợp tác trong giờ học để vòi tiền thầy Chảng mua xi rô, Đào cũng hưởng ứng nhiệt tình; gạch một đường phấn giới hạn bảng và yêu sách thầy chỉ được dạy hết phần bảng bé tẹo ấy thôi, Đào cũng không đứng ngoài cuộc; cố tình nắn nót viết đậm, viết thật to chữ “ MƯỜI ” trong dòng chữ bài mười giờ công dân giáo dục của thầy Hoà, Đào cũng nhiệt liệt cổ vũ; thấy thầy Cao hay dùng chữ “ sững sờ ” và có lẽ thầy cũng sững sờ, trên môi Đào và cả lớp lúc nào cũng vang lên hai tiếng sững sờ. Đâu chỉ nhiệt tình tham gia những trò nghịch phá của các bạn, có lúc Đào còn lên bục giảng cùng lớp analyse thư của các chàng hâm mộ làm lớp cười nghiêng ngửa vì những lời bình luận sâu sắc và dí dỏm.
Rồi những trò nghịch phá ngoài đường phố bao giờ cũng có bạn. Dòng sông áo dài trên đường Trịnh Minh Thế đâu phải chỉ riêng của lũ học trò. Sáng sáng có những cô công chức duyên dáng trong những tà áo dài thả bộ đến công sở. Cô nào điệu điệu, cả lũ xếp hàng nối đuôi nhau, lẽo đẽo bước theo tạo thành một cái đuôi dài ngoằng. Có cô không cắt đuôi được, vào tận trường mách cô Oanh nhưng cả bọn có chừa đâu.
Ngày 05.01.2009, Huỳnh Thu về Pleiku. Buổi gặp mặt chỉ có Kiến Thiết, Lý Thi, Bùi Hoàng Sơn, Kim Sen, Lộc (ông xã Sen ) và tôi. Tám cô học trò 12B năm xưa giờ ở Pleiku chỉ còn vẻn vẹn 2 đứa. Thời gian ghi dấu ấn trên khuôn mặt từng người nhiều ít khác nhau nhưng tâm hồn các bạn thật trẻ trung. Bất ngờ nhất là các bạn nam - những người ta tưởng khô khan, ít tình cảm - lại nhớ rất nhiều kỷ niệm thời học sinh và rất thích viết bài cho trang Web liên trường. Huỳnh Thu dự định sẽ viết một bài thơ chữ Hán đồng thời động viên các bạn góp tiếng nói cho trang web. Bùi Hoàng Sơn đang ấp ủ dự định sẽ viết về ngày khai trường năm học 1973 - 1974. Theo lời bạn kể buổi sáng đó bỗng dưng sân trường đột ngột xuất hiện 8 tà áo dài trắng của 8 “con vịt ” làm các nam sinh vô cùng ngạc nhiên. Và vẫn theo lời bạn, khi diện kiến dung nhan của Nga, Đào, Hoa … bao anh ở lớp 12A đã thèm “chảy nước miếng” ước gì được chuyển ngay sang ban B. Bạn còn kể hồi đó các bạn nam như một bầy thú hoang: không có khái niệm quét lớp, lau bàn ghế, lau bảng; không có khái niệm đi đứng, nói năng lịch sự, mà chuyên chạy nhảy, xô đẩy, nhảy cả lên bàn đùa giỡn la hét. Sự xuất hiện của chúng tôi chỉ làm cho hai bạn nam trở nên đứng đắn hẳn lên, đó là Lê Trung Đỉnh và Bùi Vạn Phát. Còn lại vẫn hoang dã. Vẫn dành chỗ ngồi với bạn gái. Vẫn xô bàn ghế. Vẫn nhảy lên bàn để ùa ra sân cho nhanh. Vẫn ồn ào nghịch phá. Vẫn đua nhau học và hạ gục các tên tuổi ở nhóm nữ, không hề có một chút ga-lăng nào.
Đó là một vài hồi ức của Bùi Hoàng Sơn của lớp 12B. Còn với bạn Thu Đào, sau bao năm xa cách bất ngờ chúng tôi gặp Đào ở Pleiku năm 2004, những tính cách định hình thời đi học vẫn vẹn nguyên ... Chúng tôi mong bạn giữ mãi được tình nghĩa thầy trò, giữ mãi cái tình của Pleiku như bao người đã từng có thời gian sống, học tập, làm việc, gắn bó với Pleiku trước 1975. Một Pleiku nhỏ với những dãy nhà thấp, những con dốc, những hàng thông, những cơn lốc cuốn đầy bụi đỏ mùa khô và những ngày mưa lê thê, đất đỏ biến thành bùn lầy nhão nhét. Một Pleiku trước 1975 dường như chìm trong giấc ngủ, không phát triển và con người chỉ mang tư tưởng ở tạm có lẽ vì đây là vùng chiến sự với bao đợt đổ quân, điều chuyển quân. Đến rồi đi. Hợp rồi tan. Gặp gỡ rồi chia lìa. Bao bạn bè của chúng tôi đã như những ánh sao băng vụt qua bầu trời Pleiku trong thoáng chốc rồi theo cha mẹ thuyên chuyển đi nơi khác. Bao thầy cô giáo của chúng tôi cũng thế. Khoảng thời gian sống, gắn bó với Pleiku không nhiều, như một giấc chiêm bao mà chia lìa thì lại là sự thật: quá đột ngột, quá bất ngờ và đau xót. Có những chia lìa xảy ra như câu thơ : “ Tưởng xa tạm vậy mà xa vĩnh viễn ” – Cao Thoại Châu. Có những chia lìa mà khi gặp lại thì không chỉ đất trời dau bể mà đời người cũng bể dâu. Bể dâu đến mức vô tình chạm mặt phải che nón, phải làm ngơ bởi :
Có đau khổ nào bằng
Trong đắng cay nhớ về hạnh phúc
Phải chăng trong ánh chớp số phận, những giao thoa đan chéo cuộc đời của từng người đã tạo thành cái tình Pleiku, đặc biệt là tình thầy trò sâu đậm, cứ mãi âm ỉ, đau đáu trong lòng không bao giờ nguôi quên ?
Xin được kết thúc hồi ức về bạn bè nơi đây và mong tình Pleiku mãi mãi vững bền và mãi mãi gắn kết, thắt chặt tình cảm giữa những người đã từng có thời dừng chân, có thời học và làm việc tại Pleiku….
Nguyễn thị Đức, 1/2009